Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

NGƯỜI GẦY VẪN BỊ MÁU NHIỄM MỠ

Nhiều người VN quan niệm sai lầm rằng người gày thì không bị mỡ máu cao
Người gày như que củi nên chị Như (27 tuổi, Hà Nội) không bao giờ nghĩ mình mắc các bệnh do thừa mỡ như người béo phì. Gần đây đi khám sức khỏe định kỳ, chi rất bất ngờ khi bác sĩ thông báo chị bị mỡ trong máu cao.
Cao 1m63, nặng 45 kg, chi Như thuộc dạng mình hạc xương mai ở cơ quan. Lúc nào chị cũng nghĩ người gày cũng có lợi thế của nó là không lo sợ mắc mấy bệnh do béo phì kiểu như gan nhiễm mỡ, tiểu đường, tăng huyết áp... Thế nên khi biết bệnh, chị không tin, còn tưởng bác sĩ trả nhầm kết quả.
"Người mình gày đét, có chỗ mỡ thừa nào đâu mà có mỡ trong máu. Nhưng nghĩ lại trước đây đã có lần mình thấy hoa mắt, chóng mặt, bác sĩ bảo có thể do mỡ trong máu cao dẫn đến tăng huyết áp. Lúc đó mình chỉ nghĩ đơn giản là mình làm việc nhiều nên mệt thôi, chứ ai nghĩ mắc bệnh", chị Như nói.
Cũng giống như chị Như, rất nhiều người Việt Nam vẫn cho rằng người gày thì không bao giờ bị mỡ máu cao. Đây là một quan niệm sai lầm. Gày và mỡ trong máu là hai thông số độc lập với nhau, bác sĩ Ngô Chí Hiếu, Trưởng khoa Hồi sức, Bệnh viện Tim Hà Nội cho biết.
"Đúng là trong số những người bị béo phì thì tỷ lệ bị máu nhiễm mỡ cao hơn rất nhiều. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là người gầy không mắc bệnh này", bác sĩ Hiếu nói.
Theo bác sĩ, máu nhiễm mỡ là từ mà nhiều người dân hay dùng, y học gọi là rối loạn lipid máu hay mỡ máu cao. Bình thường trong máu có một tỷ lệ mỡ nhất định, được đánh giá bằng chỉ số xét nghiệm cholesterol, triglycerid... Nếu các chỉ số này cao hơn mức cho phép thì gọi là mỡ máu cao. Trong đó, cholesterol cao là chỉ số đặc trưng của bệnh.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh: di truyền, yếu tố gia đình, chế độ ăn, sinh hoạt không hợp lý, như ăn quá nhiều thịt chó, phủ tạng động vật, tiết canh, hải sản..., uống nhiều rượu bia, dẫn đến rối loạn chuyển hóa mỡ.
Biểu hiện bệnh ở người trẻ thường thầm kín, hầu như không có triệu chứng. Nhiều người chỉ vô tình phát hiện ra bệnh khi khám sức khỏe định kỳ hoặc thấy huyết áp cao, đau đầu thì đi làm thêm xét nghiệm máu thì đã thấy bị mỡ máu cao. Ở người già thì biểu hiện rõ ràng hơn, có đến 90% là tăng huyết áp, đái tháo đường đi kèm với tăng mỡ máu, bác sĩ Hiếu cho biết.
Bệnh nguy hiểm ở chỗ nếu không điều trị về lâu dài sẽ có thể dẫn đến nhiều biến chứng như: xơ, dày thành mạch máu, làm tăng huyết áp, tắc mạch máu đặc biệt mạch máu ở não và mạch vành, gây tai biến biến, suy tim về sau.
"Phần nhiều bệnh nhân phát hiện ra bệnh khi đã có biến chứng. Có trường hợp hoàn toàn không có triệu chứng gì, nhưng khi vào viện thì đã liệt nửa người, tai biến, nhập viện trong tình trạng cấp cứu", bác sĩ Hiếu nói.
Trong khi đó, cũng theo bác sĩ, nếu phát hiện sớm, có người chỉ cần chỉnh chế độ ăn, là tỷ lệ mỡ trong máu gần như trở lại bình thường. Trường hợp không đáp ứng được thì dùng thuốc điều chỉnh. Đây là cả một quá trình lâu dài, vì còn tùy thuộc vào độ nhạy của thuốc, kiêng khem của từng người và không có một liều nhất định.
Người mắc bệnh cần có chế độ ăn uống và tập thể dục hợp lý, giảm ăn mỡ, phủ tạng động vật, đồ chiên rán, hạn chế rượu bia, uống nhiều nước.
Theo VnExpress

CÁC BÀI THUỐC ĐÔNG Y CHO GAN NHIỄM MỠ

Theo đông y, gan nhiễm mỡ chia thành các thể:

- Thể can khí uất: Người bệnh tức ngực, trướng bụng, đau tức hạ sườn phải, ăn chậm tiêu, ợ hơi, người bực dọc, dễ cáu gắt.
– Thể khí trệ huyết ứ: Đau tức hạ sườn phải, gan sưng to có thể sờ thấy được, lưỡi đỏ tía, mạch căng như dây đàn.
– Thể đàm thấp: Thường gặp ở người béo phì, bụng to, tay chân nặng nề, yếu mỏi không có sức, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng dày.
– Thể tì khí suy: Người bệnh suy nhược cơ thể, mệt mỏi không có sức, hơi thở ngắn, ăn uống kém, bụng đầy, đại tiện phân lỏng.
- Thể can thận âm hư: Người bệnh đau tức vùng hạ sườn phải, chóng mặt, ù tai, đau lưng mỏi gối; lòng bàn tay, bàn chân và ngực đều nóng, người gầy, da khô, khát nước, tiểu tiện vàng.
– Thể thấp nhiệt và đàm ứ: Gan sưng to đau tức. Mắt vàng, da vàng. Miệng khô, đắng. Nước tiểu vàng, người buồn bực, dễ cáu gắt. Rêu lưỡi vàng, dơ. Thường gặp ở người bị viêm gan vàng da, viêm gan siêu vi (B, C), người nghiện rượu.

Đối tượng hay bị gan nhiễm mỡ:

Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em nhưng hay gặp nhất ở tuổi trung niên thừa cân hay béo phì, người bệnh tiểu đường, người nghiện rượu, suy dinh dưỡng thiếu protein, giảm cân quá nhanh, dùng thuốc độc cho gan, những người có nồng độ cholesterol và triglyceride cao.

Bài thuốc điều trị gan nhiễm mỡ

Có rất nhiều phương cách để hỗ trợ chữa trị gan nhiễm mỡ. Tùy theo triệu chứng đi kèm để phân ra nhiều thể khác nhau, mỗi thể nên chọn món ăn bài thuốc thích hợp để giúp điều trị hiệu quả.

Bài thuốc điều trị gan nhiễm mỡ thể can khí uất:

Bài thuốc 1:

Nguyên liệu: 100g gạo tẻ, 15g vỏ quýt khô.
Cách dùng: gạo tẻ nấu thành cháo nhừ rồi cho vỏ quýt phơi khô tán nhỏ trộn đều, hạ lửa nhỏ nấu sôi lại, chia 2 lần ăn lúc đói bụng.
Bài thuốc, gan nhiễm mỡ, thuốc điều trị, điều trị gan nhiễm mỡ
Bài thuốc điều trị gan nhiễm mỡ thể can khí uất

Bài thuốc 2.

Nguyên liệu: 100g củ cải trắng, 5 quả quất, 20g mật ong và 300ml nước sôi.
Cách dùng: Ép củ cải trắng lấy nước quất bỏ hạt, giã nát. Trộn đều nước củ cải và quất, thêm mật ong, hòa với nước sôi. Chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Bài thuốc điều trị gan nhiễm mỡ thể khí trệ huyết ứ:

Bài thuốc 3:

Nguyên liệu: 3g củ tam thất, 3g trà xanh, 200ml nước sôi.
Cách dùng:  Sấy khô, tán vụn tam thất. Hãm tam thất và trà xanh với nước sôi trong 10-15 phút. Uống thay trà và có thể ăn luôn cả xác.

Bài thuốc 4:

Nguyên liệu: 10g nghệ vàng, 10g vỏ quýt khô, 3g trà xanh.
Cách dùng: Hai thứ phơi khô tán nhỏ cùng trà xanh. Chia 2 lần sắc uống.

Bài thuốc điều trị gan nhiễm mỡ thể đàm thấp:

Bài thuốc 5:

Nguyên liệu: 15g sơn tra, 15g lá sen, 600ml nước
Cách dùng: sơn tra xắt mỏng, lá sen phơi khô, bóp vụn. Trộn hai thứ nấu chung với 600ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trong ngày.

Bài thuốc 6:

Nguyê liệu:  30g ý dĩ nhân, 50g lá sen tươi, 100g gạo tẻ.
Cách dùng: Ý dĩ nhân thái nhỏ. Hai thứ nấu chung với gạo tẻ thành cháo nhừ. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng.

Bài thuốc điều trị gan nhiễm mỡ thể tì khí suy:

Bài thuốc 7:

Nguyên liệu: 15g sơn tra, 100g bột bắp trộn, 1lít nước.
Cách dùng: sơn tra xắt mỏng, bột bắp trộn đều với nước nóng. Nấu sơn tra với nước, đun sôi nhỏ lửa khoảng 20 phút. Cho hồ bột bắp vào nồi, vừa đổ vừa quấy đều cho tan bột. Dùng ăn điểm tâm.

Bài thuốc 8:

Nguyên liệu: 20g củ mài, cà rốt 50-80g, 100 gạo tẻ.
Cách dùng: củ mài ngâm nước cho mềm, cà rốt bỏ vỏ, xắt lát. Hai thứ nấu cùng gạo tẻ thành cháo nhừ. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng.

Bài thuốc điều trị gan nhiễm mỡ thể can thận âm hư:

Bài thuốc 9:

Nguyên liệu: 30g hà thủ ô, 100g gạo tẻ, 4-6 quả đại táo, 1lít nước, đường phèn hoặc mật ong.
Cách dùng: hà thủ ô nấu với 1 lít nước, sắc còn 500ml. Dùng nước vừa đủ để nấu với gạo tẻ và đại táo bỏ hạt thành cháo nhừ. Cho đường phèn hoặc mật ong vào khuấy đều. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng.

Bài thuốc 10:

Nguyên liệu: 15g hải sâm, 15g mộc nhĩ trắng và 100g gạo tẻ.
Cách dùng: hải sâm ngâm nước ấm, mộc nhĩ trắng ngâm nước nửa ngày cho mềm, bỏ cuống. Hai thứ nấu với gạo tẻ thành cháo nhừ, thêm gia vị. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng.

Bài thuốc điều trị gan nhiễm mỡ thể thấp nhiệt và đàm ứ:

Nếu gan nhiễm mỡ do can đởm thấp nhiệt thì dùng:

Bài thuốc 11:

Nguyên liệu:  15g cúc hoa, 30g thảo quyết minh, 200ml nước.
Cách dùng: cúc hoa, thảo quyết minh sao vàng, tán nhỏ. Hai thứ hãm với nước sôi trong 15 phút. Chia nhiều lần uống thay nước trà.

Bài thuốc 12:

Nguyên liệu:  350g bí đao, 150g nấm rơm tươi, bột ướt, dầu vừng
Cách dùng: bí đao  bỏ vỏ, hạt, nấm rơm tươi. Cho nước rau củ vào chảo cùng với bí đao và nấm rơm. Nấu lửa lớn cho sôi, hớt bỏ bọt, nêm gia vị, cho sôi riu riu đến chín đều. Rưới bột ướt và dầu vừng vào, trộn đều. Ăn trong bữa cơm hoặc ăn riêng.

NGUY CƠ MẮC BỆNH GAN NHIỄM MỠ

Nguy cơ chính gây ra gan nhiễm mỡ là nghiện rượu, bệnh béo phì, tiểu đường và lượng triglyceride trong máu cao.
Vì số người bị bệnh béo phì, tiểu đường, lượng mỡ hoặc cholesterol cao, cũng như người nghiện rượu càng ngày càng tăng nhanh, bệnh gan nhiễm mỡ đã trở thành nguyên nhân quan trọng nhất đưa đến chai gan tại Mỹ.
Ở Mỹ, tỷ lệ gan nhiễm mỡ là từ 15 đến 20% dân số nói chung và cao hơn nhiều so với tỷ lệ này ở những người béo phì. Gan nhiễm mỡ là nguyên nhân phổ biến nhất của xét nghiệm chức năng gan bất thường ở Mỹ. Nó cũng có thể xảy ra ở trẻ em.
Một trường hợp đặc biệt của gan nhiễm mỡ là gan nhiễm mỡ cấp tính trong khi có thai (acute fatty liver of pregnancy). Tuy tương đối hiếm hoi, xẩy ra khoảng 1 trong 9,000 đến 13,000 ca đỡ đẻ, bệnh rất nguy hiểm với số tử vong cho cả mẹ và bé sơ sinh lên đến 20%
Bệnh gan nhiễm mỡ hiện đang trở nên phổ biến ở trẻ em, phần lớn liên quan tới sự gia tăng đáng báo động tỉ lệ trẻ em béo phì. Theo số liệu điều tra của Viện Dinh dưỡng, 29% trẻ thành thị thừa cân, con số này ở nông thôn chỉ là 5,5%. Bệnh gan nhiễm mỡ ảnh hưởng đến khoảng 3% trẻ em và 22-53% trẻ em béo phì. Bệnh gan nhiễm mỡ có thể được tìm thấy ở trẻ em như trẻ như bốn tuổi.

Gan nhiễm mỡ chia làm 2 nhóm:

•    Gan nhiễm mỡ do rượu
•    Gan nhiễm mỡ không do rượu.
Một điều dễ hiểu nếu một người bị tiểu đường hoặc quá béo nếu uống quá nhiều rượu hoặc bia sẽ rất dễ bị gan nhiễm mỡ.

Gan nhiễm mỡ do rượu:

Tất cả những người uống hơn 60g cồn mỗi ngày, ngay cả nếu chỉ uống trong một thời gian ngắn đều có nguy cơ bị gan nhiễm mỡ.
Tại Mỹ, khoảng 15.3 triệu người đang nghiện rượu. Nếu thử nghiệm lá gan của họ, gần như người nào cũng bị gan nhiễm mỡ. May mắn thay, hiếm khi gan nhiễm mỡ đưa đến tử vong, và lá gan sẽ trở lại hoàn toàn bình thường nếu bệnh nhân ngừng uống rượu. Tuy nhiên, nếu người nghiện rượu vẫn tiếp tục uống rượu, lá gan của họ sẽ từ từ trở thành chai. Một số người có thể sẽ bị ung thư gan.
Gan nhiễm mỡ, béo phì, gan, trẻ em, triệu chứng, tiểu đường, rượu
Gan nhiễm mỡ. Ảnh nguồn childrenshospital.org

Gan nhiễm mỡ không do rượu:

Trong trường hợp này, gan nhiễm mỡ có thể là triệu chứng đầu tiên của bệnh tiểu đường. Khi chúng ta ăn quá nhiều so với mức tiêu thụ của cơ thể, năng lượng thặng dư sẽ tích trữ dưới dạng mỡ.  Mỡ ứ đọng lại khắp nơi trong cơ thể, rõ rệt nhất là bụng, hông, cằm và cổ. Nhưng chính những “hạt” mỡ ẩn nấp bên trong cơ thể mới thật sự nguy hiểm đến sức khỏe của chúng ta.  Vì thế, rất nhiều bệnh nhân tuy gầy ốm vẫn có thể bị gan nhiễm mỡ, nhất là khi họ bị tiểu đường hoặc/và mỡ cao.

Triệu chứng gan nhiễm mỡ

Thông thường gan nhiễm mỡ không gây ra triệu chứng gì đáng kể. Khi bệnh trở nên trầm trọng hơn có thể có một số triệu chứng:
- Mệt mỏi, yếu ớt, khó chịu, buồn nôn và bụng nôn nao khó chịu.
- Lá gan có thể bị sưng to
- Một số ít người có thể bị vàng da.
Nếu gan chỉ bị nhiễm mỡ thôi, bệnh không nguy hiểm cho lắm. Tuy nhiên, nếu hệ thống miễn nhiễm phát hiện có sự bất thường và hoạt động loại bỏ những tế bào gan hư hỏng này, bạch huyết cầu sẽ xuất hiện khắp nơi gây ra viêm gan. Viêm lâu ngày sẽ đưa đến xơ rồi chai gan.

Chẩn đoán gan nhiễm mỡ

Vì gan nhiễm mỡ không gây ra một triệu chứng nào đáng kể, bệnh này thường chỉ phát hiện khi bệnh nhân tình cờ đi siêu âm gan (ultrasound of the abdomen) vì một lý do nào khác.
Tuy hình thù của lá gan sẽ có một số sắc thái đặc biệt khi khám nghiệm bằng siêu âm hoặc MRI, nhưng phương pháp chính xác nhất vẫn là sinh thiết lá gan (liver biopsy). Trong phương pháp này, một cây kim nhỏ sẽ được “đâm” thẳng vào lá gan. Sau đó tế bào gan sẽ được nghiên cứu dưới kính hiển vi. Phương pháp này tương đối an toàn và không đau đớn lắm nên chỉ cần tiêm một ít thuốc tê vào dưới da mà thôi.

Điều trị

Phương pháp hữu hiệu nhất để điều trị bệnh gan nhiễm mỡ là cai rượu. Vì thế, người bị gan nhiễm mỡ phải ngừng uống rượu bia càng sớm càng tốt, nhất là khi gan chưa bị xơ và chai.
Một số thuốc điều trị bệnh tiểu đường như Actos, Avandia hoặc thuốc hạ cholesterol như lovastatin có thể thuyên giảm sự tiến triển của gan nhiễm mỡ.
Giảm cân nếu bạn thừa cân hoặc béo phì.

Phòng ngừa bệnh gan nhiễm mỡ

- Bằng cách lựa chọn một lối sống lành mạnh, bạn có thể ngăn ngừa thừa cân, béo phì, một trong những nguyên nhân gây bệnh gan nhiễm mỡ. Thực hiện chế độ giảm cân từ từ và bền vững.
- Thực hiện chế độ ăn uống cân bằng tốt đó là ít chất béo bão hòa và tăng chất xơ.
- Tạo thói quen tập thể dục, ít nhất là bốn lần một tuần. Bạn có thể đi bộ, bơi, làm vườn, luyện tập những bộ môn thể thao mà bạn yêu thích (tốt nhất nên tham khảo ý kiến của chuyên gia để có chế độ luyện tập phù hợp với tình trạng sức khỏe của bạn).
- Hạn chế uống rượu.
Dùng bạn đã bị gan nhiễm mỡ, đừng quá bi quan, bạn có thể đảo ngược tình hình với việc duy trì một chế độ ăn uống lành mạnh, luyện tập và tránh xa rượu bia sẽ giúp bạn có sức khỏe tốt.
Nguồn DS. Phúc Chính

GAN NHIỄM MỠ LÀ GÌ?

Chúng tôi đã gặp rất nhiều bệnh nhân đến khám bệnh vì gan nhiễm mỡ. Gần như đa số những bệnh nhân này được chẩn đoán bị “gan nhiễm mỡ” chỉ là do tình cờ làm siêu âm bụng kiểm tra và phát hiện chứ hoàn toàn bệnh nhân không có một triệu chứng nào cả. Một số bệnh nhân tinh tưởng tuyệt đối vào kết quả siêu âm này nên đã tốn nhiều tiền bạc, chạy “đông” chạy “tây” để chữa trị mà khi kiểm tra lại bằng siêu âm thì kết quả “đâu vẫn hoàn đấy”!!! Do đó, bệnh nhân rất lo lắng, coi như mình bị một căn bệnh “nan y” khó trị. Vậy, chúng ta biết gì về gan nhiễm mỡ? Bài viết sau đấy hy vọng sẽ đem đến một số thông tin cần thiết để giúp qúy vị có một cái nhìn đúng đắn hơn về chứng bệnh này.
I. GAN NHIỄM MỠ LÀ GÌ ?
Gan nhiễm mỡ là tình trạng mỡ tích tụ trong các tế bào gan và làm trọng lượng gan tăng lên 5%
II. NHỮNG NGUYÊN NHÂN NÀO LÀM CHO GAN BỊ NHIỄM MỠ ?
Lý do thường nhất làm cho gam bị nhiễm mỡ là tình trạng béo phì, nghĩa là khi cân nặng của cơ thể tăng lên quá nhiều, ngược lại ở những người bị phù do suy dinh dưỡng lâu ngày cũng có thể bị tích tụ mỡ trong gan do thiếu các chất cần thiết để đưa bớt chất mỡ ra khỏi gan. Các nguyên nhân khác cũng có thể làm cho gan bị nhiễm mỡ, đó là tình trạng nghiện rượu, bị bệnh tiểu đường típ II, bệnh tăng chất mỡ trong máu, bệnh nhiễm chất đồng (bệnh Wilson’s), bệnh lao và đặc biệt là tình trạng nhiễm siêu vi viêm gan C mãn tính. Ngoài ra, một số thuốc như corticoides,tertrecylin, estrogen dùng liều cao và kéo dài sẽ gây rối loạn sự biến đổi chất mỡ trong gan và rồi cũng làm cho gan bị tích tụ mỡ.
III. LÀM SAO ĐỂ BIẾT MÌNH BỊ GAN NHIỄM MỠ ?
Người bị gan nhiễm mỡ thường không có triệu chứng gì; đôi khi có một số bệnh nhân cảm thấy hơi mệt mỏi và suy nhược hoặc chỉ cảm giác hơi tưng tức ở vùng dưới sườn phài. Thông thường khi thấy một người bị béo phì, bị bệnh tiểu đường, uống rượu khá nhiều, dùng thuốc corticoides dài hạn... , nghĩa là có những nguyên nhân gợi ý, thì người ta nghi ngờ đến tình trạng gan có thể bị nhiễm mỡ.
Những người bị gan nhiễm mỡ có thể có gan to. Khi làm xét nghiệm máu thấy men gan (ALT hay SGPT và AST hay SGOT) tăng. Một vài nghiên cứu đã cho thấy rằng gan nhiễm mỡ là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất làm tăng men gan khi thử máu thường qui. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp gan bị nhiễm mỡ mà men gan hoàn toàn bình thường.
Một số bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ khi được làm xét nghiệm đo lượng mỡ trong máu có thể thấy lượng trong máu tăng. Tuy nhiên, mỡ trong máu có nhiều loại. Thông thường chúng ta hay nghe nói đến chất cholesterol cao trong máu sẽ dễ gây ra các bệnh lý về tim mạch nhưng nên nhớ rằng đa số gan nhiễm mỡ lại không dính líu gì đến cholesterol. Việc gia tăng một thành phần khác của chất mỡ trong máu gọi là chất triglycerides mới là yếu tố nguy cơ gây ra đa số các trường hợp gan nhiễm mỡ.
Để biết chắc chắn gan có bị nhiễm mỡ hay không, các bác sĩ phải làm sinh thiết gan để lấy ra một mẫu nhỏ các tế bào gan và đem xem dưới kính hiển vi. Sinh thiết gan còn có thể giúp phát hiện mức độ bị hư hoại, nguyên nhân gây bệnh và các bất thường khác đi kèm với bệnh gan nhiễm mỡ (Hình 9.1)
Những phương pháp khác như làm siêu âm hoặc chụp “xiti” (CT scanner) cũng có thể cho biết gan bị nhiễm mỡ. Qua siêu âm, người ta sẽ thấy hình ảnh của gan”sáng “ hơn còn trên “xiti” sẽ thấy gan giảm đậm độ so với gan bình thường. Tuy nhiên, siêu âm thường chỉ có giá trị gợi ý vì kết quả có thật chính xác hay không còn tùy thuộc vào kinh nghiệm của người bác sĩ làm siêu âm. Vả lại, hình ảnh siêu âm không thể cho biết mức độ hư hoại của gan khi bị nhiễm mỡ. Còn chụp “xiti” (CT) thì quá đắt tiền mà giá trị chẩn đoán thì cũ không hơn gì siêu âm.
\
 
IV. BẰNG CÁCH NÀO MÀ MỠ ĐỌNG Ở GAN ?
Người ta không biết chắc chắn bằng cách nào mà mỡ lại bị dọng nhiều ở gan nhưng có thể giải thích tình trạng này theo một vài cách như sau:
Do ruột gia tăng hấp thu chất mỡ nhất là khi ăn quá nhiều chất béo đặc biệt là mỡ động vật, vì vậy lượng mỡ đến gan cũng sẽ tăng.
Do chất mỡ từ mô mỡ ở những nơi khác trong cơ thể được huy động bất thường đến gan.
Do ăn nhiều chất đường nên khi được chuyển đến gan,một phần chất đường sẽ được gan cất vào kho dự trữ dưới dạng glycogen, một phần dư khác sẽ được biến đổi thành mỡ.
Do tăng hổn hợp chất mỡ tại gan hoặc giảm sự chuyển tải chất mỡ ra khỏi gan vì thiếu một số chất để chuyên chở mỡ.
V. KHI GAN BỊ NHIỄM MỠ CÓ GÂY RA NGUY HIỂM GÌ KHÔNG ?
Đối với những bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ do uống quá nhiều rượu trong một thời gian dài thì ngoài việc gây ra gan nhiễm mỡ, rượu còn gây ra viêm gan hoặc xơ gan.
Còn đối với những người bị gan nhiễm mỡ nhưng không uống rượu, sự tích tụ chất mỡ nhiều ở trong gan cũng có thể gây viêm gan. Gan nhiễm mỡ loại này thường gập ở những bệnh nhân tuổi trung niên, béo phì và thường có kết hợp với bệnh tiểu đường. Người ta gọi đó là bệnh viêm gan do mỡ trên những người không uống rượu. Một xố nghiên cứu cho thấy có khoảng từ 20% đến 40% những người béo phì sẽ bị viêm gan do mỡ. Những nhóm bệnh nhân khác như người bị tiểu đường không được điều trị tốt, người bị sụt cân quá nhanh hoặc những phụ nữ đang sử dụng các thuốc ngừa thai hay các thuốc nội tiết tố thay thế sau khi mãn kinh cá chứa chất estrogen cũng có thể bị viêm gan do mỡ. Trong số những bệnh nhân này, khoảng 10% sẽ có nguy cơ bị xơ gan.
Nếu gan chỉ bị nhiễm chất mỡ mà tế bào gan không bị hư hại thì không có nguy hiểm gì, người ta gọi những người này là người bị gan nhiễm mỡ lành tính vì họ sẽ không bị viêm gan hay xơ gan. Chỉ có làm sinh thiết gan mới xác định được là gan có bị viêm do mỡ hay không, còn các xét nghiệm máu khác không thể kết luận được.
VI. GAN NHIỄM MỠ CÓ ĐIỀU TRỊ ĐƯỢC HAY KHÔNG ?
Việc điều trị gan nhiễm mỡ phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Điều quan trọng cần nhớ là nếu gan bị nhiễm mỡ mà không bị viêm gan nghĩa là gan không bị hư hoại gì thì khol6ng cần thiết phải điều trị. Việc điều trị là phải điều trị nguyên nhân gây ra gan nhiễm mỡ. Tuy nhiên, do một số bệnh nhân gan nhiễm mỡ có thể bị viêm gan do chất mỡ và có nguy cơ bị xơ gan, cho nên họ cần tuân thủ một số nguyên tắc sau đây:
Đối với những người béo phì thì việc điều trị trước tiên là áp dụng một chế độ ăn uống tiết chế (cữ bớt chất béo, bớt chất đường và ăn đủ nhu cầu về đạm) đồng thời kết hợp với việc tập luyện để giảm cân. Chỉ cần giảm cân là tình trạng gan nhiễm mỡ có thể cải thiện ( xem thêm chương 13: Dinh dưỡng trong bệnh gan)
Đối với những người nghiện rượu, nếu được cai rượu sớm, gan có thể bình phục hoàn toàn và ngăn chặn được khả năng gây viêm gan và xơ gan do rượu. Chỉ có gan nhiễm mỡ do rượu là có thể hồi phục một cách ngoạn mục khi ngưng rượu hoàn toàn.
Đối với bệnh nhân bị tiểu đường, cần điều chỉnh sao cho đường huyết ở trong giới hạn bình thường. Nếu có béo phì kèm theo thì cũng áp dụng ăn uống để làm giảm cân.
Một số thuốc ảnh hưởng trên sự biến đổi chất mỡ ở gan như corticoides, estrgen... cần phải ngưng dùng.
Đối với những bệnh nhân bị viêm gan do mỡ nhưng không bị béo phì và không bị tiểu đường thì nên ăn chế độ ăn có ít chất mỡ.
Như vậy, chúng ta thấy rằng việc điều trị gan nhiễm mỡ chủ yếu là thay đổi chế độ ăn uống và giải quyết tốt những nguyên nhân dẫn đến gan nhiễm mỡ. Vẫn có một số thuốc được ghi nhận là có hiệu quả trong điều trị viên gan do mỡ nhưng những thuốc này vẫn còn nằm trong vòng nghiên cứu. Không biết xuất phát từ quan niệm nào mà nhiều bệnh nhân đã được cho dùng thuốc giảm cholesterol trong máu để điều trị gan nhiễm mỡ và đây là một điều hoàn toàn sai lầm. Những thuốc làm giảm cholesterol trong máu không giúp ích gì cho gan nhiễm mỡ, thêm vào đó nhóm thuốc này còn được xếp vào một trong những nhóm thuốc gây ra tăng men gan. Còn những thuốc có nguồn gốc dược thảo khác đang được bày bán rộng rãi thị trường có lẽ chỉ có tác dụng cải thiện một phần nào chức năng gan mà thôi. 

 BS. Đinh Dạ Lý Hương

ĐIỀU TRỊ MÁU NHIỄM MỠ BẰNG THUỐC TÂN DƯỢC

Điều trị máu nhiễm mỡ


Máu nhiễm mỡ hay còn gọi là rối loạn lipid máu nếu không được kiểm soát tốt sẽ dẫn đến nhiều loại bệnh nguy hiểm. Cụ thể, khi các loại lipid có hại tăng (tăng triglyceride, tăng LDL cholesterol) sẽ có sự lắng đọng các chất này ở thành mạch máu, gây xơ vữa mạch, nghĩa là thu hẹp lòng mạch máu. Nếu không điều trị, lớp mỡ này ngày càng dày lên và có thể làm tắc lòng mạch, hậu quả là lượng máu không đủ để nuôi các cơ quan. 
Tùy theo vùng mạch máu bị tổn thương mà có các biểu hiện khác nhau: huyết áp quá cao hay gây tai biến mạch máu não, liệt nửa người; thiếu máu đến nuôi cơ tim gây cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim; thiếu máu hay tắc mạch ở chân gây dấu hiệu chân đi cách hồi (chân lạnh tím đau khi đi một đoạn, phải ngồi nghỉ mới bớt đau), hoại tử tím đen bàn chân, ngón chân tùy theo vị trí mạch bị tắc; viêm tụy cấp.
Việc điều chỉnh này trước hết phải bắt đầu từ chế độ ăn. Không nên vội vã dùng thuốc ngay. Nếu bị béo phì thì phải giảm cân; giảm ăn mỡ động vật mà thay vào đó nên ăn dầu thực vật, ăn nhiều cá, ăn nhiều rau quả, uống sữa đậu nành.
Nếu bị tăng cholesterol, nên bớt ăn các loại thực phẩm có chứa nhiều cholesterol như thận, óc, gan, trứng, bơ, tôm đồng...; hạn chế rượu bia, nhất là khi có tăng thành phần triglyceride. Đồng thời phải tăng cường hoạt động thể lực: thể dục vừa sức, đi bộ, bơi lội. Hoạt động thể lực giúp tăng HDL. Phải tập thể dục ít nhất 30 phút/ngày, đều đặn hằng ngày hoặc ba lần/tuần.
Nếu chỉ bị rối loạn mỡ máu ở mức độ nhẹ và vừa, chỉ cần thực hiện chế độ ăn kiêng có kết hợp giảm cân, khi không có kết quả thì mới dùng thuốc nhưng đồng thời vẫn phải duy trì chế độ ăn kiêng và luyện tập thể dục. Mỗi ba tháng kiểm tra lại các giá trị của lipid máu một lần.
Losartan Potassium là thuốc chỉ định làm hạ huyết áp cao chứ không điều trị khỏi bệnh máu nhiễm mỡ. Thuốc chỉ được dùng khi có chỉ định của bác sĩ trong trường hợp máu nhiễm mỡ có huyết áp cao.
Lopid có thành phần hoạt chất là Gemfibrozil là thuốc điều trị rối loạn lipide máu thuộc nhóm fibrate.

Ở người, các nghiên cứu lâm sàng cho thấy rằng dùng Lopid với liều duy nhất mỗi ngày 900 mg sẽ có hiệu quả: giảm rất nhanh hàm lượng của các triglycéride, giảm cholestérol toàn phần, giảm cholestérol LDL, tăng cholestérol HDL, cải thiện sự phân bố của cholestérol trong huyết tương bằng cách làm giảm sự tương quan VLDL + LDL / HDL (tương quan này tăng trong bệnh lý tăng lipide huyết gây xơ vữa động mạch).

Bạn nên cho bác điều trị theo phác đồ của bác sĩ chuyên khoa!

Thuốc điều trị máu nhiễm mỡ
Rối loạn lipid máu là từ chuyên môn trong y học dùng để chỉ tình trạng rối loạn các thành phần lipid trong máu. Trong cuộc sống đời thường chúng ta hay được nghe là máu nhiễm mỡ.
Các thuốc điều trị
Các loại renins gắn acid mật: Các thuốc cholestyramine (questran), colestipol (colestid)... không hấp thu qua ruột mà gắn với acid mật làm giảm hấp thu của chúng. Do vậy, thuốc sẽ làm tăng chuyển hóa từ cholesterol sang acid mật trong gan, làm giảm lượng dự trữ cholesterol trong gan và làm tăng hoạt tính của thụ thể lipopotein tỷ trọng thấp (LDL) của gan. Thuốc làm giảm LDL-C tới 30%, làm tăng lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C) khoảng 5% nhưng làm tăng nhẹ triglycerid. Do vậy, thường dùng kết hợp với thuốc khác và không dùng khi triglycerid tăng cao. Tác dụng phụ có thể gặp bao gồm táo bón, đau bụng, buồn nôn, nôn, nóng ruột...
Nicotinic acid (niacin): Đây là một loại vitamin tan trong nước, ức chế gan sản xuất ra các lipoprotein. Các thuốc này làm giảm LDL-C tới 25% và tăng HDL-C từ 15 - 35%. Liều dùng thuốc bắt đầu nên thấp, sau đó có thể tăng liều. Tác dụng phụ: cảm giác đỏ bừng da rất hay gặp (hầu như gặp ở tất cả các bệnh nhân). Có thể tránh bằng cách uống thuốc trong bữa ăn hoặc uống 100mg aspirin trước mỗi lần dùng thuốc 30 phút. Các tác dụng phụ khác bao gồm mẩn ngứa, buồn nôn, nôn... Không được dùng thuốc nhóm này cho bệnh nhân bị gút, loét dạ dày tá tràng, viêm đại tràng mạn. Với bệnh nhân đái tháo đường dùng cần thận trọng.
Thuốc ức chế men HMG-CoA reductase (nhóm statin): Bao gồm simvastatin (zocor), lovastatin, pravastatin, fluvastatin, atorvastatin (lipitor). Các thuốc này ức chế hoạt hóa men HMG-CoA Reductase làm giảm hoạt động tổng hợp cholesterol trong tế bào gan và tăng hoạt hóa thụ thể LDL, do đó làm giảm LDL-C trong máu. Tuy nhiên khi dùng thuốc người bệnh có thể gặp: khó tiêu, ỉa chảy, táo bón, buồn nôn, đau bụng, đau đầu, mất ngủ. Không nên dùng statin cho bệnh nhân bị bệnh gan đang tiến triển, đau cơ, viêm đa cơ... Chú ý: hiện nay thuốc liprobay (cerivastatin) đã phải rút khỏi thị trường do tác dụng phụ nguy hiểm gây tiêu cơ vân khi dùng cùng với các fibrat.
Các dẫn xuất fibrat (acid fibric): Bao gồm gemfibrozil (lopid), clofibrat (lipavlon), fenofibrat (lipanthyl, tricor), bezafibrat (benzalip). Tác dụng phụ có thể gặp là sưng phù mặt, đau bụng, buồn nôn, đau đầu, mẩn ngứa...
Điều trị thay thế bằng hormon sinh dục nữ (estrogen): Phương pháp này có thể có ích ở phụ nữ sau tuổi mãn kinh có rối loạn lipid máu. Estrogen uống làm giảm LDL-C khoảng 15% và làm tăng HDL-C cũng khoảng 15%. Đây là thuốc nên chọn lựa đầu tiên cho điều trị phụ nữ sau tuổi mãn kinh có rối loạn lipid máu. Tuy nhiên, thuốc này có thể làm tăng triglycerid đôi chút. Có thể dùng viên uống phối hợp với progestin cho những phụ nữ bị đau bụng kinh.
Và vấn đề kết hợp thuốc
Có thể dùng hai loại thuốc ở hai nhóm khác nhau nếu thấy cần thiết. Việc kết hợp hai loại thuốc với nhau liều thấp sẽ thay thế cho việc dùng một loại với liều cao vì khó dung nạp. Trong một số trường hợp, khi tăng quá cao cholesterol máu nên kết hợp hai loại thuốc. Sự kết hợp tốt nhất là giữa statin và niacin.
Theo dõi khi dùng thuốc
Cần kiểm tra cholesterol và triglycerid máu mỗi 3-4 tuần điều trị. Nếu không đáp ứng sau hai tháng điều trị, mặc dù đã dùng liều tối ưu thì nên thay bằng thuốc khác hoặc kết hợp thuốc thứ hai. Lưu ý là việc điều chỉnh chế độ ăn và luyện tập phải luôn luôn được đảm bảo.
BS.  Trần Tất Đạt

ĂN UỐNG VỚI BỆNH MÁU NHIỄM MỠ



   (Dân trí) - Lượng mỡ trong máu tăng cao liên quan chặt chẽ với chế độ ăn uống của chính bạn. Cách điều trị đơn giản và hiệu quả nhất là trong bữa ăn hàng ngày, bạn cần chú ý mấy điểm sau:

Không nên ăn sau 8h tối

Những nguời bị máu nhiễm mỡ nếu ăn tối quá muộn mà lại ăn thức ăn nhiều đạm thì rất khó tiêu hoá và sẽ làm lượng cholesterol đọng trên thành động mạch dẫn đến xơ vữa động mạch.

Nên ăn nhạt vì thức ăn này có lợi cho sức khoẻ và bệnh tim. Kiêng thức ăn có nồng độ chất béo cao, nên ăn những thức ăn ít chất béo như cá, đậu phụ, đỗ tương.

Nên ăn thực phẩm có nhiều tác dụng giảm mỡ trong máu như: Gừng, chế phẩm đậu sữa, nấm hương, mộc nhĩ, hành tây, ba ba, trà, dầu ngô.

Thông thường bữa ăn tối nên ăn vào 7h là hợp lý.

Tăng cường rau xanh và ngũ cốc

Trong rau xanh có chứa nhiều vitamin C có thể làm giảm lượng cholesterol trong máu và ngăn ngừa bệnh xơ cứng động mạch. Ngoài ra, trong rau xanh có chứa chất xơ, người ăn nhiều rau thì lượng axit cholic để phân giải cho cholesterol trong phân tương đối cao. Từ đó làm giảm lượng cholesterol trong máu.

Trong đậu, ngũ cốc, quả cứng có chứa mangan, crômi có thể phòng chống bệnh xơ cứng động mạch. Rong biển có chứa hàm lượng iốt cao có thể ngăn ngừa mỡ bám vào thành động mạch. Đặc biết những người máu nhiễm mỡ cần tránh xa thuốc lá.

Các món ăn có tác dụng làm giảm mỡ trong máu:

Cách 1: Lấy 30g tỏi tím đã bóc vỏ cho vào nồi nước sôi đun trong một phút rồi vớt ra. Sau đó cho 100g ngô cứng vào nồi nước đun tỏi nấu nhừ. Cuối cùng cho tỏi trở lại vào nồi này đun tiếp một vài phút. Hỗn hợp thu được dùng để uống vào buổi sáng và tối.

Cách 2: Dùng 1- 2 lá sen tươi sắc lấy nước để uống.

Cách 3: Cho một lượng nước vừa đủ vào 30- 60g bột ngô, trộn thành hồ đun chính cho dầu vừng, hành, gừng, muối, gia vị rồi ăn.

Phạm Thanh

Ăn uống với bệnh máu nhiễm mỡ
 

Ăn uống với bệnh máu nhiễm mỡ

    Lượng mỡ trong máu tăng cao liên quan chặt chẽ với chế độ ăn uống của chính bạn. Cách điều trị đơn giản và hiệu quả nhất là trong bữa ăn hàng ngày, bạn cần chú ý mấy điểm sau:

Không nên ăn sau 8h tối
Những nguời bị máu nhiễm mỡ nếu ăn tối quá muộn mà lại ăn thức ăn nhiều đạm thì rất khó tiêu hoá và sẽ làm lượng cholesterol đọng trên thành động mạch dẫn đến xơ vữa động mạch.
Nên ăn nhạt vì thức ăn này có lợi cho sức khoẻ và bệnh tim. Kiêng thức ăn có nồng độ chất béo cao, nên ăn những thức ăn ít chất béo như cá, đậu phụ, đỗ tương.
Nên ăn thực phẩm có nhiều tác dụng giảm mỡ trong máu như: Gừng, chế phẩm đậu sữa, nấm hương, mộc nhĩ, hành tây, ba ba, trà, dầu ngô.
Thông thường bữa ăn tối nên ăn vào 7h là hợp lý.
Tăng cường rau xanh và ngũ cốc
Trong rau xanh có chứa nhiều vitamin C có thể làm giảm lượng cholesterol trong máu và ngăn ngừa bệnh xơ cứng động mạch. Ngoài ra, trong rau xanh có chứa chất xơ, người ăn nhiều rau thì lượng axit cholic để phân giải cho cholesterol trong phân tương đối cao. Từ đó làm giảm lượng cholesterol trong máu.
Trong đậu, ngũ cốc, quả cứng có chứa mangan, crômi có thể phòng chống bệnh xơ cứng động mạch. Rong biển có chứa hàm lượng iốt cao có thể ngăn ngừa mỡ bám vào thành động mạch. Đặc biết những người máu nhiễm mỡ cần tránh xa thuốc lá.
Các món ăn có tác dụng làm giảm mỡ trong máu:
Cách 1: Lấy 30g tỏi tím đã bóc vỏ cho vào nồi nước sôi đun trong một phút rồi vớt ra. Sau đó cho 100g ngô cứng vào nồi nước đun tỏi nấu nhừ. Cuối cùng cho tỏi trở lại vào nồi này đun tiếp một vài phút. Hỗn hợp thu được dùng để uống vào buổi sáng và tối.
Cách 2: Dùng 1- 2 lá sen tươi sắc lấy nước để uống.
Cách 3: Cho một lượng nước vừa đủ vào 30- 60g bột ngô, trộn thành hồ đun chính cho dầu vừng, hành, gừng, muối, gia vị rồi ăn.
Phạm Thanh

MỠ TRONG MÁU CAO CHỚ COI THƯỜNG!

Mỡ trong máu cao: chớ coi thường!

    Đây là loại bệnh đang ngày càng gia tăng theo nhịp độ phát triển của xã hội. Bệnh không có biểu hiện triệu chứng rõ rệt nhưng rất nguy hiểm bởi nhiều hậu quả khó lường... Hậu quả khó lường
Theo bác sĩ Trần Triệu Thanh Trúc - khoa tim mạch Bệnh viện (BV) cấp cứu Trưng Vương - mỡ (lipid) trong máu cao gồm có nguyên nhân nguyên phát: có tính chất gia đình (có người trong gia đình, họ hàng bị bệnh); thứ phát: do các bệnh khác như suy giáp, cường giáp, hội chứng thận hư, tiểu đường, suy tuyến yên, do rượu...
Một người khi bị mỡ trong máu thường không có triệu chứng biểu hiện rõ rệt. Đa số bệnh được phát hiện tình cờ do bệnh nhân (BN) đi khám sức khỏe tổng quát định kỳ hoặc đến khám vì triệu chứng của một bệnh khác như tiểu đường, cao huyết áp, hoặc đau bụng vùng thượng vị...
Bác sĩ Thanh Trúc cho biết rối loạn lipid máu nếu không được kiểm soát tốt sẽ dẫn đến nhiều loại bệnh nguy hiểm. Cụ thể, khi các loại lipid có hại tăng (tăng triglyceride, tăng LDL cholesterol) sẽ có sự lắng đọng các chất này ở thành mạch máu, gây xơ vữa mạch, nghĩa là thu hẹp lòng mạch máu. Nếu không điều trị, lớp mỡ này ngày càng dày lên và có thể làm tắc lòng mạch, hậu quả là lượng máu không đủ để nuôi các cơ quan.
Tùy theo vùng mạch máu bị tổn thương mà có các biểu hiện khác nhau: huyết áp quá cao hay gây tai biến mạch máu não, liệt nửa người; thiếu máu đến nuôi cơ tim gây cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim; thiếu máu hay tắc mạch ở chân gây dấu hiệu chân đi cách hồi (chân lạnh tím đau khi đi một đoạn, phải ngồi nghỉ mới bớt đau), hoại tử tím đen bàn chân, ngón chân tùy theo vị trí mạch bị tắc; viêm tụy cấp.
Ăn kiêng và tập luyện
Bác sĩ Nguyễn Thị Hoa - trưởng khoa dinh dưỡng BV Nhi Đồng 1 - cho biết trẻ em bị béo phì cũng bị mỡ máu tăng cao. Nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Thị Hoa trên 330 bệnh nhi (BN) béo phì từ 24 tháng đến 15 tuổi cho thấy có 86,7% trẻ có tỉ lệ mỡ máu cao.
Trong đó có 74,3% BN tăng tryglyceride cao, 12,3% BN tăng cholesterol, 13,9% có LDL cao hơn mức bình thường và 11,7% có HDL thấp hơn bình thường. Ngoài ra còn có 60,9% BN bị gan nhiễm mỡ.
Bác sĩ Lý Huy Khanh - phó phòng kế hoạch tổng hợp BV Cấp cứu Trưng Vương - cho biết ở các nước phát triển, tử vong nhiều nhất do bệnh tim (32%) mà chủ yếu là do xơ vữa động mạch. Ở nước ta, xơ vữa động mạch với các biểu hiện bệnh suy vành, đột tử, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não... ngày một gia tăng theo nhịp độ phát triển của xã hội.
Nam giới trên 40 tuổi và phụ nữ mãn kinh hoặc trên 50 tuổi, những người có yếu tố nguy cơ cao như hút thuốc lá, tăng huyết áp, người bệnh tiểu đường, béo phì vùng bụng, tiền sử gia đình có người bệnh tim mạch thì phải thường xuyên khám bệnh để phát hiện tình trạng tăng mỡ trong máu. Nếu không có yếu tố nguy cơ cao, theo dõi tối thiểu mỗi năm năm; nếu có yếu tố nguy cơ cao cần theo dõi mỗi năm.
Về điều trị, theo bác sĩ Thanh Trúc, hiện tượng tăng lipid máu có thể điều trị và kiểm soát được trước khi quá muộn. Việc điều chỉnh này trước hết phải bắt đầu từ chế độ ăn. Không nên vội vã dùng thuốc ngay. Nếu bị béo phì thì phải giảm cân; giảm ăn mỡ động vật mà thay vào đó nên ăn dầu thực vật, ăn nhiều cá, ăn nhiều rau quả, uống sữa đậu nành.
Nếu bị tăng cholesterol, nên bớt ăn các loại thực phẩm có chứa nhiều cholesterol như thận, óc, gan, trứng, bơ, tôm đồng...; hạn chế rượu bia, nhất là khi có tăng thành phần triglyceride. Đồng thời phải tăng cường hoạt động thể lực: thể dục vừa sức, đi bộ, bơi lội. Hoạt động thể lực giúp tăng HDL. Phải tập thể dục ít nhất 30 phút/ngày, đều đặn hằng ngày hoặc ba lần/tuần.
Nếu chỉ bị rối loạn mỡ máu ở mức độ nhẹ và vừa, chỉ cần thực hiện chế độ ăn kiêng có kết hợp giảm cân, khi không có kết quả thì mới dùng thuốc nhưng đồng thời vẫn phải duy trì chế độ ăn kiêng và luyện tập thể dục. Mỗi ba tháng kiểm tra lại các giá trị của lipid máu một lần.  
(Theo Tuổi Trẻ)